Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

QUÊ HƯƠNG VÀ KÝ ỨC DI TRUYỀN (báo Văn nghệ Hội nhà văn VN, số ra ngày 16/3/2013)


Tạp bút
Nguyễn Thị Hậu

(1).
Nhiều người, quen biết tôi hơi lâu lâu, rất ngạc nhiên khi biết tôi là “người Nam bộ” bởi tôi vẫn nói giọng Hà Nội dù đã 36 năm sống ở Sài Gòn. Có người đã hỏi: vậy quê bạn ở đâu? Tôi hỏi lại, vui vui: Quê theo nghĩa nào? Là An Giang quê cha Đồng Tháp quê mẹ (theo kiểu ghi lý lịch hiện nay), là Hà Nội nơi mình sinh ra, sống thời thơ ấu và bị dứt ra khỏi vùng ký ức nghèo khó và êm đềm vào tuổi  thiếu nữ? Hay Sài Gòn -  nơi mình đã trưởng thành và có lẽ sẽ sống cho đến hết đời?
Không phải tự dưng mà tôi hỏi lại bạn như vậy, bởi vì đã nhiều lần tôi cũng tự hỏi mình: Thế nào là quê hương?
Một cách truyền thống, giữa những người Việt Nam, khi được hỏi quê bạn ở đâu, nhiều người thường nói đến quê cha, dù họ đang sống ở Hà Nội, Sài Gòn hay thậm chí, ở nước ngoài. Có thể lý giải điều này: trước kia khi mà con người ít được/ phải đi đâu ra khỏi mảnh đất mình đã sinh ra và lớn lên thì quê hương cụ thể là nơi ông bà cha mẹ và mình đã sống, rồi con cháu mình đang và sẽ sống ở đó. Nó vừa là khái niệm trìu tượng vừa cụ thể bởi những quan hệ huyết thống và quan hệ “cư trú” láng giềng chằng chịt với nhau, bởi hình ảnh “vật chất” quen thuộc hàng ngày vẫn nhìn thấy như cây đa bến nước con đò dòng sông, (nhân tiện, tôi nhận thấy hình ảnh quê hương trong văn thơ Việt Nam thường là làng quê đồng bằng, ít được nhắc đến vùng địa lý khác như hàng dương bãi biển cồn cát hòn đảo, hay ngọn núi, nương rẫy, cao nguyên… làm như là ký ức quê hương Việt Nam chỉ là đồng bằng và của người Kinh-Việt?!). Nếu bị buộc phải dứt ra khỏi quê hương là đã bị mang một định kiến nặng nề như “dân lưu tán”, “tha phương cầu thực”, “dân ngụ cư”… càng làm cho người ta ngại đi xa… Cứ thế, “quê hương” ngày càng buộc chặt người ta vào với nó.
Thời thế thay đổi, xã hội cũng thay đổi… Việc rời quê hương đến sinh sống ở một vùng đất khác không còn là cá biệt, thậm chí giờ đây còn khá phổ biến, không chỉ đến những vùng miền khác trong nước mà còn đi đến nhiều nước khác… Khi ấy truyền thống “quê hương” được củng cố thêm bởi các Hội Đồng hương (tất nhiên, Hội đồng hương chỉ có ở nơi xa, chứ có ai lập hội này ngay nơi quê mình đâu?). Ở một nơi khác, những người cùng quê thấy gần gũi nhau hơn không chỉ vì cùng “quê quán” mà còn vì họ có chung nhiều yếu tố thuộc về văn hóa: ngôn ngữ, ẩm thực, lối sống… họ có nhiều ký ức chung về  “văn hóa vật thể” hay “phi vật thể” của quê hương: đình chùa đền miếu nhà thờ, con đê giếng làng hay các lễ hội, đặc sản vùng miền… Các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn có vô số những Hội đồng hương, không chỉ cùng Tỉnh mà còn có đến cùng huyện, thậm chí là cùng xã…  Hình như ở một số nước mà có nhiều người Việt Nam sinh sống cũng có các “hội đồng hương” như vậy thì phải?
Truyền thống xem quê hương là quê cha ngày càng được củng cố bởi thủ tục hành chính về mặt “lý lịch” theo kiểu “huyết thống phụ quyền”: nguyên quán là quê cha (thậm chí đến cả quê của ông nội), dù có khi đời cha và con đã không còn sống ở đó. Đọc tiểu sử của nhiều nhân vật nổi tiếng hay thấy ghi thế này: quê cha của ông ở X. nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Y.… Cái chữ NHƯNG này bây giờ phổ biến đến mức, nó chính là nguyên nhân làm nhiều người như tôi phải băn khoăn tự hỏi “thế nào là quê hương”? Vì nó mà bây giờ nhiều người hỏi nhau “người ở đâu” thay vì hỏi “quê ở đâu”, và câu trả lời người Hà Nội, Thái Bình, người Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, người Quảng Nam, người Đồng Nai… có khi vừa là “quê hương” nhưng có khi/ nhiều khi đấy là nơi mình đã sinh ra và sống một khoảng thời gian ngắn dài nào đó. Rồi nếu sống ở nước ngoài, khi ra nước ngoài, quốc tịch có phải là một yếu tố để nhìn nhận về quê hương không? Hay như trường hợp của chính tôi chẳng hạn: Người Hà Nội nhưng quê An Giang, và sống ở Sài Gòn. Bạn bè quen thân lâu ngày thường nói: bà/chị/cô này là đúng là người Nam bộ! Có sao đâu nhỉ?
Loanh quanh, vẫn chưa minh định được “thế nào là quê hương” ngoài cái ý nghĩa “truyền thống” thường mặc định trong nhiều người và ý nghĩa “hành chánh” mà nhiều người bị quy định. Trong bối cảnh xã hội “mở” và “xáo trộn” phức tạp như ngày nay có lẽ phải nhờ đến “ký ức” chăng?

(2).
Ký ức của riêng mình được tích lũy bởi những gì mình đã sống và trải nghiệm. Điều này phụ thuộc nhiều vào (những) thời gian không gian cụ thể, hay nói theo lý thuyết  Einstein, đó là Thời – Không gian đã qua.
Với ba má tôi, quê hương cụ thể là cái làng nhỏ Mỹ Hiệp trên Cù Lao Giêng bên bờ sông Tiền, nơi mà sau này nhạc sĩ Hoàng Hiệp – cũng là một người bà con gần với nhà tôi  – đã ghi lại ký ức về nó qua bài hát “Trở về dòng sông tuổi thơ”. Làng Mỹ Hiệp hiền lành với vườn trái cây, những nếp nhà sàn khuất sau hàng dừa, cánh đồng lúa chín trong mênh mông mùa nước nổi… Cù lao Giêng là cái nôi của Đạo Hòa hảo, lại là nơi có nhà thờ  Công giáo được xây dựng vào loại sớm nhất ở Đông dương (hoàn thành vào năm 1889). Vào đầu năm 1945 một cô gái quê Hòa An Cao Lãnh bên kia sông Tiền đã theo chồng về làm dâu, dù chỉ ở đó vài năm thôi nhưng trong tâm thức của má tôi, quê chồng cũng là quê mình. Thậm chí, má tôi còn có nhiều ký ức về quê nội của tôi hơn là ba tôi – phải chăng vì “làm dâu xứ người” nên má tôi lưu giữ nhiều hơn những ấn tượng về quê mới? Và cũng như vậy, quê ngoại của tôi, làng Hòa An kế bên thị tứ Cao Lãnh cũng trở nên gần gũi hơn với hình ảnh cây mận xanh bên chái bếp (loại mận xanh Hòa An nổi tiếng thường được hấp với cá lóc, vị chua ngọt thanh thanh thấm vào miếng cá, nhậu quên say…), vườn thuốc lá Cao Lãnh thơm đậm đà vì được bón phân ủ bằng cá,  làn khói thơm mùi lúa mới từ nhà máy xay của ông ngoại lan trên sông…
Những tháng năm sống ở Hà Nội, ký ức về quê hương thường được ba má tôi nhắc đến, bất kỳ lúc nào có gì gợi nhớ. “Ngày Bắc đêm Nam” suốt hai mươi năm không làm nguôi nỗi nhớ mà chỉ làm dầy thêm ký ức về quê hương. Tuổi thơ của tôi được nuôi dưỡng trong những ký ức của cha mẹ. Tôi biết về Nam bộ qua những tấm áo bà ba của má mà bà tự may và chỉ mặc kiểu áo này suốt hai mươi năm, cho đến khi về quê và đến tận bây giờ, biết về bà nội bà ngọai qua mái tóc dài bới gọn ghẽ phía sau của má; biết về quê hương Cù lao Giêng và Cao Lãnh từ ấy, biết yêu sông Tiền yêu mùa nước nổi từ ấy, biết thèm ăn mắm lóc, thèm cá rô kho tộ, thèm canh chua cá linh bông điên điển… Lớn hơn một chút, từ những cuốn sách qua những câu chuyện, hiểu biết của tôi về quê hương cụ thể hơn nhiều hơn nhưng không thể thay thế sự lung linh run rẩy mà ký ức cha mẹ truyền cho.
Một cách tự phát, mỗi khi ghi lý lịch quê quán: Mỹ Hiệp – Chợ Mới – An Giang tôi không hề có cảm giác nơi ấy là xa lạ, chỉ mơ hồ một nỗi buồn có lẽ mình sẽ chẳng được về quê… Cho đến ngày lần đầu về quê nội ngoại, bỗng thấy rưng rưng như thể trở lại nơi mình đã sống tự lúc nào. Đấy, quê hương trong tôi là những ký ức được di truyền, tôi đã có nó từ trong huyết thống, và may thay, khi tiếp cận nó bằng trải nghiệm của chính mình, quê hương càng trở nên gần gũi thân thương.
Nhưng (lại nhưng), với thế hệ các con tôi thì trong tâm thức của chúng, có lẽ Hà Nội – qua những ký ức sống động của tôi - gần gũi hơn là quê ngoại quê nội, phần vì ít được về quê mà “ký ức di truyền” đến đời F2 đã bắt đầu nhạt nhòa cảm xúc – yếu tố quan trọng để nuôi dưỡng ký ức. Và nếu các con tôi có coi Sài Gòn là quê hương chứ không phải một địa danh nào đó ghi trong chứng minh thư, thì điều đó với tôi cũng không có gì quá ghê gớm. Sài Gòn là nơi chúng sinh ra và lớn lên, tạo nên tính cách của chúng. Nhưng tôi tin rằng, chắc chắn chúng sẽ không quên  mình còn có một quê hương nữa, nơi ông bà đã sinh ra và nuôi dưỡng cha mẹ để rồi có mình ngày hôm nay.
Văn hóa được di truyền qua lối sống trong gia đình, qua giáo dục, qua sự duy trì của xã hội. Ký ức của mỗi người, mỗi vùng đất là một phần của sự di truyền văn hóa… Tổng hòa tất cả những yếu tố đó tạo nên căn cước văn hóa của mỗi con người, mỗi cộng đồng người. Căn cước văn hóa nơi nào tạo nên tính cách cơ bản của con người mình, quê hương của mình ở đó. Và như vậy, trong thế giới ngày càng “phẳng” này, quê hương của mỗi người có thể không phải là xã huyện tỉnh cụ thể, mà có khi là cả một vùng miền, thậm chí, một vài vùng miền. Được chăng?

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

Sắp có sách mới :))

Đây là demo bìa cuốn sách sẽ ra trong tháng 9/2012 này cả nhà ạ. Trông có được ko nhỉ, cả nhà cho ý kiến nhé. Thanks nhiều :)

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

VÙNG BIÊN

1. Cửa khẩu.

Năm năm rồi tôi mới trở lại Lạng Sơn. Khỏang năm 2005 tôi có dịp lên cửa khẩu Hữu nghị quan. Hồi đó đường biên là con đường thằng, ranh giới hai bên phân biệt là màu nhựa đường. Nhìn qua Hữu nghị quan thấy có phần gần gũi vì vẻ rêu phong cổ xưa của nó. Cột mốc cây số 0 của hai bên đứng khiêm nhường bên đường. Đồn công an cạnh barie cũng giống nhau. Hai tòa nhà trụ sở Hải quan cũng tương đương về quy mô. Có khác chăng là phía Việt Nam hàng đòan xe tải chở trái cây chờ nhập khẩu sang Trung quốc, còn phía Trung quốc là những xe tải nhỏ chở hàng hóa tiêu dùng qua Việt Nam. Thật ra lúc ấy hàng hóa nhập từ Trung quốc qua cửa khẩu cho “phải phép” thôi vì hàng lậu đã tung hòanh khắp nơi.

Lần này đến đây tôi không nhận ra nơi mình đã đến cách đây mới 5 năm. Từ phía trụ sở Hải quan Viết Nam nhìn qua bên kia, tòan bộ khu vực cửa khẩu cao hẳn lên như một ngọn đồi, rộng như quảng trường, được lát đá sáng bóng, lát gạch sạch sẽ. Cột mốc phía Trung quốc là một tảng đá to lớn dựng giữa quảng trường, một hàng rào inox chạy suốt chiều ngang, vì vậy khách nhập cảnh không thể đi thằng mà phải đi theo đường hành lang ven lề trái để vào trụ sở Hải quan được xây mới đồ sộ hơn trước. Còn phía nhà ta thì vẫn là tòa nhà cũ, đường bê tông, bước ra khỏi trụ sở Hải quan là bụi mù. Mấy năm rồi mới xây được thêm bãi đậu xe hơi và nhà chờ ở tuốt phía ngòai. Có vài chiếc xe chở khách từ Hải quan ra bãi xe cũng là xe lam Trung quốc…

“Hữu nghị quan” đã biến thành tòa nhà lầu cửa kính hiện đại, tường xây sạch sẽ, không còn vẻ rêu phong cổ kính. Cũng phải thôi, “hữu nghị quan” giờ ngự trên “ngọn đồi” đá lát sáng bóng, cây đa cổ thụ gần đó cũng được xây bệ gạch tròn xung quanh, ghế đá, bồn hoa… Mọi thứ có vẻ quy củ và hòanh tráng. Chỉ buồn cười những bảng chỉ dẫn bằng tiếng Việt: nhà xí (nhà vệ sinh), “do đó nhập” (lối vào), “nơi tiêu độc đế giày” (thảm chùi chân)… không hiểu dịch kiểu gì nữa?

Từ bên này đi qua bên đó thì phải gò lưng lên dốc, nhìn qua bên đó thì cứ phải “ngước nhìn”. Từ bên kia nhìn về phía mình đúng là kiểu “nhìn xuống” đầy “hạ cố”… Có ai nhận ra điều đó không?!

2. Bằng Tường là một thị trấn của tỉnh Quảng Tây (Trung quốc) sát biên giới phía Bắc của Việt Nam. Lần trước tôi đến Bằng Tường chỉ là thị trấn nhỏ có phần hiu quạnh, mấy con phố cũ lác đác xe máy xe đạp, vài chiếc xe lôi do phụ nữ lái tập trung ở ga xe lửa. Ngày có vài chuyến xe lửa từ Bằng Tường đi Nam Ninh làm cho thị trấn nhộn nhịp chốc lát… Lang thang ngòai cửa ga trong lúc chờ tàu đến tôi còn kịp ngắm nghía sạp đồ cổ của một ông già bày ở lề đường, tiền xưa bạc cũ gốm cổ đủ cả, đẹp nhất là mấy chiếc tô đĩa gốm vẽ gà trống men màu xanh đỏ của các lò gốm Quảng Đông, trông quen thuộc vì giống gốm Biên Hòa. Cửa hàng bên kia đường bảng hiệu cũng có tiếng Việt “cửa hàng bách hóa” bán đủ lọai quần áo giày dép nước giải khát kẹo bánh. Màu sắc sặc sỡ, giá không đắt, hàng bình dân mà.

Bây giờ Bằng Tường đã trở thành một thành phố mới nơi cửa khẩu: đường phố rộng rãi chiếu sáng bởi hai dãy đèn đường uốn hình hoa râm bụt – biểu tượng của tỉnh Quảng Tây. Nhà đang xây ngổn ngang khắp nơi nhưng phố xá vẫn gọn gàng. Những phố xưa vẫn là những căn nhà phố hình ống một trệt một lầu cửa sổ trang trí hồi văn treo đèn lồng đỏ, như những con phố từ truyện của Lỗ Tấn bước ra. Chỉ khác là nhiều cửa hàng cửa hiệu dùng 2 thứ tiếng Trung – Việt, công ty du lịch, nhà hàng đặc sản san sát, khách du lịch đông đúc, cả Việt cả Trung, đều nói nhiều nói to, như nhau.

Trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố là một tòa nhà 4 lầu mới xây dựng. Bên kia đường một khách sạn 5 sao đang xây tựa lưng vào núi và nhìn lên một ngôi chùa cổ cheo leo vách núi. Bằng Tường đang xây nhiều chung cư cao tầng, có lẽ dân cư ở đây đang tăng lên nhanh chóng.

Thành phố cửa khẩu nối liền với Nam Ninh bằng con đường cao tốc nội địa mỗi bên 3 làn xe hơi và một làn đường phụ. Dải phân cách trồng hoa râm bụt suốt tuyến dài gần 180km. Khỏang 50 km có một trạm dừng rộng mênh mông đủ chỗ cho hàng chục xe lớn, nhà hàng luôn có thức ăn nóng sốt, siêu thị nhỏ nhưng đầy đủ hàng hóa cần cho người đi đường xa. Nhà vệ sinh sạch sẽ. Xe chạy tốc độ khỏang 100km/h, không hề thấy bóng công an vì suốt con đường được theo dõi bằng camera. Đường tốt làm khỏang cách như gần hơn. Không có cảm giác đây là vùng biên, càng không có cảm giác xa xôi heo hút dù con đường chạy giữa những ngọn núi đá nhấp nhô

Trên đường đôi lúc có cảm giác như đi giữa hai hàm răng sói khổng lồ…